Sổ tay kiến thức cần biết về bệnh nhồi máu cơ tim BẠN CẦN BIẾT

Bệnh nhồi máu cơ tim là một trong những căn bệnh rất phổ biến khi về già nó là nguyên nhân hàng đầu dẫn tới bệnh đột quỵ và tai biến mạch máu não, liệu bạn và người thân của bạn đã có những hiểu biết gì về bệnh? Hãy cùng chuyên gia chuabenhbangthaoduoc.com.vn tìm hiểu về căn bệnh nhồi máu cơ tim này nhé!

Khái niệm về bệnh nhồi máu cơ tim:

Nhồi máu cơ tim được viết tắt NMCT:  là bệnh lý nguy hiểm đe doạ trực tiếp đến tính mạng do tắc nghẽn đột ngột mạch máu nuôi tim, một khi cơ tim hoàn toàn không được cung cấp máu thì cơ vùng cơ tim sẽ hoại tử gây triệu chứng đau ngực dữ dội. Tùy theo bao nhiêu cơ tim bị hủy, bệnh có thể nhẹ hoặc nặng.

cac-benh-ve-tim

 

Dấu hiệu triệt chứng của bệnh mà mọi người nên biết:

– Biểu hiện thường gặp là đau ngực trái dữ dội, kéo dài hơn 15-30 phút. Đau có khi kèm vả mồ hôi và khó thở, mệt nhiều, không dám vận động nặng vì gia tăng cơn đau. Đau có thể lan ra cánh tay cẳng tay trái đến ngón út và áp út bàn tay trái, hoặc có thể lan sau lưng hoặc hàm dưới trái.

– Một số người bị nhồi máu cơ tim có thể chỉ biểu hiện bằng khó thở nhẹ hay mệt khi vận động mà không đau ngực. Do đó có thể nhồi máu cơ tim sẽ bị bỏ sót. Cho nên trong cuộc sống hàng ngày chúng ta vẫn có thể gặp những trường hợp chỉ than mệt trước đó vài giờ sau đó đột nhiên tử vong.

Một số biểu hiện của bệnh ở nữ giới thường gặp:

– Cảm giác nóng ran ở ngực

– Đau nhói ở phần trên của cơ thể: cổ, lưng, xương hàm…

– Mệt mỏi bất thường, cảm giác nghẹt thở

– Cảm giác buồn nôn, nôn, đầy bụng khó tiêu

thoai-hoa-khop-goi-4

Các nguyên nhân chính dẫn đến bệnh nhồi máu cơ tim:

1, Tuổi và giới tính

– Tuổi cao là yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành.

– Nguy cơ bệnh mạch vành do xơ vữa tăng theo tuổi, nguy cơ tử vong là 1,5/1000 người ở độ tuổi 50. Ở nam giới tuổi mắc bệnh mạch vành trung bình là 55, ở nữ giới là 65

–  Nam giới có nguy cơ mắc bệnh cao gấp 5 lần nữ ở độ tuổi 50, càng về sau thì tỷ lệ này càng nhỏ lại. Đến 75 tuổi thì tần suất mắc bệnh ở nam và nữ như nhau.

2, Tiền sử gia đình

– Gia đình có người mắc bệnh sớm trước 55 tuổi ở nam và 65 tuổi ở nữ

– Bệnh mạch vành có thể di truyền được, tỷ lệ tim mạch ở người có tiền sử gia đình cao gấp 3-4 lần người không có tiền sử.

3, Hút thuốc lá

tang-huyet-ap

– Thuốc lá liên quan đến cái chết của khoảng 5 triệu người, chiếm 9%,  xấp 1,6 triệu người có liên quan tới bệnh tim mạch tử vong.

– So với những người không hút thuốc lá thì người hút thuốc lá có nguyên cơ tiến đến bệnh mạch vành do xơ vữa tới 60%, tăng 50% tử vong bệnh tim mạch. Hút thuốc lá gây gia tăng nồng độ carbon monoxide trong máu, dẫn tới phá hủy tế bào nội mô mạch vành, gia tăng kết tập tiểu cầu, tăng nguy cơ hình thành huyết khối tắc nghẽn

– Hút thuốc lá là yếu đố nguy cơ độc lập với các yếu tố khác

4, Rối loạn mỡ máu

– Nồng độ Cholesterol cao là nguyên nhân của 56% bệnh thiếu máu cơ tim, gây nên tử vong của khoảng 4,4 triệu người chết mỗi năm.

– Nồng độ Cholesterol cao là nguyên nhân của 56% bệnh thiếu máu cơ tim, gây nên tử vong của khoảng 4,4 triệu người chết mỗi năm.

– Tăng LDL, tăng cholesterol, tăng nguy cơ mắc bệnh và tử vong do bệnh mạch vành, người có nồng độ cholesterol > 200 mg% cao gấp 6 lần người có nồng độ không đạt mức đó. Giảm HDL gây gia tăng nguy cơ bệnh tim mạch.

5, Đái tháo đường

– Biến chứng tim mạch là biến chứng phổ biến và nguy hiểm nhất của bệnh đái tháo đường, gây gia tăng 50% nguy cơ bệnh mạch vành do xơ vữa ở nam, 99% ở nữ.

Gây trầm cảm

 

– Nguy cơ chết do bệnh mạch vành ở bệnh nhân có đái tháo đường không có tiền sử nhồi máu cơ tim tương đương với bệnh nhân từng bị nhồi máu cơ tim không có đái tháo đường. Bệnh tim mạch do xơ vữa ĐMV là nguyên nhân khiến 65% tử vong của bệnh đái tháo đường.

6, Tăng huyết áp

– Tăng huyết áp là bệnh lý thường gặp nhất trong các bệnh lý tim mạch, là nguyên nhân khiến cho 7 triệu người chết mỗi năm trên toàn thế giới, 49% các trường hợp bệnh mạch vành được quy cho là do tăng huyết áp. Mặc dù tăng huyết áp được định nghĩa khi huyết áp tâm thu lớn hơn 140 mmHg, nhưng Lawes và cộng sự nghiên cứu thấy có tới 50% gánh nặng bệnh tim mạch khi huyết áp tâm thu ở mức dưới 145 mmHg.

– Huyết áp càng tăng thì nguy cơ bệnh mạch vành càng cao

7, Ít vận động thể lực

– Vận động thể lực vừa ít nhất 30 phút mỗi ngày, ít nhất 5 ngày trong tuần, đối với vận động mạnh thì ít nhất 20 phút mỗi ngày, ít nhất 3 ngày một tuần làm giảm nguy cơ mắc bệnh tim mạch.

– Người trưởng thành vận động thể lực thường xuyên thì khả năng mắc bệnh mạch vành giảm

thoai-hoa-khop-goi-5

8, Béo phì trung tâm

– Béo phì là một trong yếu tố nguy cơ chính của bệnh mạch vành,  nguy cơ mắc bệnh xơ vữa mạch vành càng cao nếu béo phì chủ yếu ở phần bụng. Béo phì thường đi kèm với nhiều yếu tố nguy cơ khác như tăng huyết áp, rối loạn lipid, rối loạn dung nạp glucose. Người béo phì dễ mắc bệnh ĐTĐ type 2 hơn so với người nhẹ cân

9, Stress

– thái độ thù địch, trầm cảm, cô lập về mặt xã hội hay trạng thái căng thẳng kéo dài có giá trị dự báo bệnh động mạch vành. Những sang chấn tinh thần là yếu tố khởi phát NMCT

10, Tăng CRP

– Tăng CRP cho thấy có giá trị dự báo các biến cố tim mạch. Đo CRP – hs có giá trị bổ sung cho việc lượng giá nguy cơ trong phòng ngừa tiên phát bệnh mạch vành, còn ở người có bệnh mạch vành thì đo CRP-hs có ý nghĩa dự báo biến cố tử vong. Có 3 mức nguy cơ bệnh mạch vành đối với nồng độ CRP-hs là: nguy cơ thấp (< 1 mg/L), nguy cơ trung bình (1–3 mg/L), nguy cơ cao (>3 mg/L).

– Gia tăng kết hợp giữa CRP và LDL gia tăng đáng kể nguy cơ tim mạch so với bệnh mạch vành

Phân loại các trường hợp nhồi máu cơ tim:

roi-loan-mo-mau

Loại 1: Nhồi máu cơ tim nguyên phát: Nhồi máu cơ tim nguyên phát do mảng xơ vữa dẫn tới hình thành cục máu đông trong lòng mạch vành kết quả làm giảm tưới máu nuôi hoại tử cơ tim.

Loại 2: Nhồi máu cơ tim thứ phát: Tổn thương hoại tử cơ tim có bệnh khác ngoài  bệnh mạch vành gây mất cân bằng cung cầu oxy của cơ tim.

Loại 3: Nhồi máu cơ tim dẫn tới tử vong trong trường hợp không có kết quả men tim: Đột tử nghi ngờ thiếu máu cục bộ cơ tim và  có dấu thiếu máu cục bộ cơ tim mới hoặc block nhánh trái mới, nhưng tử vong xảy ra trước khi có thể lấy được mẫu máu hoặc trước thời điểm  men tim tăng.

Loại 4a: Nhồi máu cơ tim do can thiệp động mạch mạch vành qua da (PCI)

Loại 4b: Nhồi máu cơ tim do huyết khối trong stent

Loại 5: Nhồi máu cơ tim do mổ bắc cầu mạch vành

Các biến chứng của bệnh nhồi máu cơ tim hay gặp phải:

1, Biến chứng cơ học: 

– Thông liên thất do thủng vách liên thất, hở van 2 lá cấp do đứt dây chằng cột cơ, vỡ tim.

– Shock tim: thường do rối loạn chức năng thất trái nặng.

– Nhồi máu thất phải: thường gặp ở bệnh nhân nhồi máu vùng dưới.

– Suy tim: là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong ở NMCT.

– Viêm màng ngoài tim: Viêm màng ngoài tim cấp xảy ra trong vòng 24 – 96 giờ sau NMCT cấp. Hội chứng Dressler xảy ra từ 1-8 tuần sau NMCT cấp, có thể do tự miễn.

trieu-chung-roi-loan-mo-mau

2, Biến chứng điện học

– Rối loạn nhịp thất: các rối loạn nhịp thất nặng như rung thất và nhịp nhanh thất thường xuất hiện sớm trong 48 giờ đầu.

– Rối loạn nhịp trên thất: nhịp nhanh xoang, nhịp nhanh kịch phát trên thất, rung nhĩ.

– Rối loạn nhịp chậm: nhịp chậm xoang, block nhĩ thất.

Chuẩn đoán về bệnh:

– Vì nhồi máu cơ tim nguy hiểm đến tính mạng và diễn biến nhanh chóng, phương châm chẩn bệnh là tuyệt đối tránh bỏ sót. Bất cứ bệnh nhân nào tuổi trên 45, bị đau ngực (nhất là bên trái) hay khó thở và nhất là có các yếu tố nguy cơ trên, cần phải chứng minh không bị nhồi máu cơ tim trước khi nghĩ đến căn bệnh gì khác. Thường nên đưa vào bệnh viện để theo dõi.

a, Chẩn đoán nhồi máu cơ tim:

Bệnh sử: đặc điểm của đau ngực

Kiểm tra: các biến đổi trên điện tâm đồ: Nhồi máu cơ tim thường làm ST chênh lên và thay đổi sóng T. Sau khi cơ tim bị hủy thành sẹo, thường có biến đổi sóng Q. Điều cần biết là đôi khi bệnh nhân bị nhồi máu cơ tim nhưng điện tâm đồ vẫn hoàn toàn bình thường. Dựa theo thay đổi của phần nào của điện tâm đồ có thể biết phần nào của tim bị nhồi máu

tang-huyet-ap-uong-thuoc-gi

 

  • Vách tim trước (I21.0): V1-V4
  • Vách tim dưới (I21.1): II, III, F
  • Vách tim bên (I21.2): I, F, V5, V6
  • Vách tim sau (I21.2): V1, V2

Kiểm tra: các thay đổi về nồng độ men tim và troponin. Khi cơ tim bị thiếu oxygen, màng tế bào của cơ bị rạn nứt và các chất bên trong bị phóng thích vào máu. Nồng lượng trong máu của số chất đặc biệt của cơ tim (“men tim” Creatinine kinase (CK) và Troponin – dạng I hay T) có thể được dùng để chẩn đoán sự hủy hoại cơ tim. Điều cần biết là đôi khi mặc dầu bệnh nhân đang bị nhồi máu cơ tim nồng độ men tim có thể vẫn bình thường trong vài giờ đầu. Do đó, trong khi bệnh nhân nằm tại bệnh viện để theo dõi, điện tâm đồ và nồng độ men tim phải được lập lại sau 6–8 tiếng để xác định bệnh.

Kiểm tra: chụp động mạch vành (coronary angiogram) sẽ xác định được mạch nào bị nghẽn. Đây là cách chắc chắn nhất để xác định, định dạng và quyết định phương thức điều trị nhồi máu cơ tim. Theo Tổ chức Y tế Thế giới WHO chẩn đoán xác định bệnh nhồi máu cơ tim phải có hai trong ba tiêu chuẩn sau:

  • Đau ngực thắt (như trên) trên 20 phút
  • Thay đổi trên một loạt 2 (hoặc 3) điện tâm đồ (cách nhau vài tiếng)
  • Men tim tăng (rồi giảm)
  • Phương pháp điều trị bệnh nhồi máu cơ tim:
  • Nguyên tắc chính của điều trị là đưa oxygen tới phần cơ tim đang bị tiêu hủy vì mạch nghẽn.

1, Cấp cứu

benh-nhoi-mau-co-tim

Bệnh nhân có triệu chứng đau thắt ngực cần được điều trị trong phòng cấp cứu.

  • Dưỡng khí oxygen
  • Điện tâm đồ
  • Aspirin: thuốc này có cộng dụng làm loãng máu và làm giảm sự tăng trưởng của cục máu đông.

Glyceryl trinitrate: thuốc này có thể cho vào dưới lưỡi bệnh nhân – có nhiều tác dụng: làm thư giãn mạch máu (tăng đường kính mạch máu dễ cho máu đi qua chỗ nghẽn, giảm lượng máu trở về tim phải (bớt công việc cho tim – preload), giảm huyết áp (dễ cho tim thất trái bơm máu ra – afterload)

Chống đau: morphine có thể dùng để chống đau, làm bệnh nhân bớt sợ hãi (giảm adrenaline, giảm độ nhịp tim, bớt công việc cho tim)

Theo dõi biến chứng: loạn nhịp tim, thay đổi huyết áp.

2, Làm thông động mạch vành tim

– Điều trị nội khoa: thuốc làm tan cục máu đông (thrombolysis): streptokianse, urokinase…trong giai đoạn cấp cứu, điều trị duy trì chống cục máu đông bằng Asprin hoặc Vasopolis (trong trường hợp dị ứng với Aspirin hoặc ở những bệnh nhân loét dạ dày, hành tá tràng)

– Điều trị ngoại khoa: thò ống thông xuyên qua động mạch đùi đi vào động mạch vành tim, làm nong mạch, phá vỡ cục máu đông và mảng xơ vữa, đồng thời có thể nhét ống căng mạch (cardiac catherization & angioplasty +/- stent).

3, Giải phẫu ghép động mạch tim

– Mục đích của phẫu thuật này tiếp tế máu cho phần tim đang bị khủng hoảng do động mạch khu vực bị nghẽn

– Tĩnh mạch từ chân bệnh nhân được cắt lấy và đem lên nối từ động mạch chủ vào phần động mạch phía sau khúc bị nghẽn

benh-roi-loan-mo-mau

4, Theo dõi

– Sau khi qua giai đoạn hiểm nghèo ban đầu của nhồi máu cơ tim, bệnh nhân cần nằm một thời gian (2–3 ngày) trong đơn vị điều trị tim hoặc đơn vị điều trị tăng cấp đề phòng để chữa kịp thời những biến chứng như loạn nhịp tim.

– Trong thời gian hồi phục sau khi xuất viện, bệnh nhân nên tránh hoạt động quá sức (thí dụ giao hợp), mang vác vật nặng… khoảng một vài tháng, tránh hồi hộp, căng thẳng, xúc động mạnh (không xem bóng đá, phim kinh dị…). Nhiều địa phương cấm lái xe vài tuần. Duy trì Vasopolis ở những bệnh nhân mẫn cảm với thuốc chống đông khác.

– Bác sĩ sẽ gặp lại bệnh nhân sau vài tuần để theo dõi và tra cứu xét nghiệm thêm.

Phương pháp phòng ngừa từ những biến chứng khác:

Đa số bệnh nhân sẽ phải tiếp tục dùng thuốc điều trị tránh bị nhồi máu cơ tim lần nữa và những bệnh tương tự như tai biến mạch máu não.

aspirin: liều thấp, cần theo dõi tác dụng phụ trên đường tiêu hóa (loét dạ dày, tá tràng, rối loạn tiêu hóa), những trường hợp mẫn cảm với Aspirin có thể dự phòng bằng các sản phẩm giúp phòng nhồi máu cơ tim khác (Vasopolis)

  • Clopidogrel
  • Thuốc ngăn β
  • Thuốc ngăn ACE
  • Thuốc giảm mỡ máu

Những thực phẩm nên ăn và không nên ăn đối với người bị nhồi máu cơ tim:

1, những loại thực phẩm nên ăn:

tang-huyet-ap-khang-tri

-Trong giai đoạn đầu nên cho bệnh nhân ăn cháo hay súp (những đồ ăn lỏng, dễ nuốt, dễ tiêu hóa).

– Sử dụng các loại thực phẩm từ thiên nhiên như rau, củ, quả, ngũ cốc và các loại hạt.

– Ăn nhiều các loại ngũ cốc nguyên hạt giàu chất xơ như: gạo lứt, các loại đậu (đỗ)…

– Người bị nhồi máu cơ tim nên thiết lập một kế hoạch cũng như chế độ ăn uống riêng cho bản thân mình. Đối với những người mắc căn bệnh này thì không nên ăn nhiều muối đồng thời phải giảm chế độ hoạt động mạnh để tránh những hậu quả xấu có thể ảnh hưởng đến tim.

– Ngoài chế độ ăn hợp lý thì người bị nhồi máu cơ tim cũng nên ăn nhiều trái cây vì trong trái cây có chứa nhiều vitamin rất tốt cho sức khỏe như: dưa hấu, nho, xoài, thăng long…

– Tăng cường ăn nhiều rau xanh để cung cấp nguồn năng lượng cũng như những vitamin có lợi cho sức khỏe.

– Các bạn cũng có thể uống thêm các loại ngũ cốc khác nhau như: đậu nành, đậu xanh..để cung cấp thêm dinh dưỡng cho cơ thể khỏe mạnh.

– Nên thường xuyên ăn thịt gà, cá, thịt nạc kèm theo đó là uống nhiều nước và có chế độ nghỉ ngơi hợp lý.

– Quả óc chó, củ hành tây cũng là một loại thực phẩm rất tốt cho những người mắc căn bệnh nhồi máu cơ tim này.

– Kết hợp với một chế độ ăn hợp lý thì người bị nhồi máu cơ tim cũng cần phải tập thể dục thường xuyên để rèn luyện sức khỏe và nâng cao thể lực.

2, Những loại thực phẩm kiêng kị:

tang-huyet-ap-khang-tri

– Những người bị nhồi máu cơ tim nên giảm lượng đường trong chế độ ăn của mình sao cho hợp lý. Người bệnh không nên ăn vặt, tránh những món tráng miệng ngọt như bánh kẹo, bánh kem, các loại nước giải khát đóng chai, nước có ga.

– Hạn chế ăn nhiều muối vì những người ăn nhiều muối có thể dẫn tới bệnh cao huyết áp nguy cơ kéo theo bệnh nhồi máu cơ tim. Người bệnh nên ăn nhạt, tránh ăn những thực phẩm đóng hộp bởi vì trong thực phẩm đóng hộp chứa rất nhiều muối.

– Các loại thức ăn này như thịt, các sẽ làm tăng lượng cholesterol trong máu, đọng lại trong mạch máu gây nhiều bệnh như nhồi máu cơ tim, tai biến mạch máu não…

– Đối với người bị nhồi máu cơ tim thì cũng không cần phải kiêng ăn chất đạm  vì đây cũng là nguồn dinh dưỡng rất tốt cho sức khỏe. Người bị nhồi máu cơ tim cũng nên hạn chế ăn ăn thịt bò, thịt cừu, xúc xích, váng sữa, thịt gia cầm có da… vì đây là những thực phẩm rất giàu dinh dưỡng nhưng lại ảnh hưởng không tốt đến tim mạch.

– Rượu bia – thuốc lá là những thứ người bị nhồi máu cơ tim không nên sử dụng vì nó có hại cho sức khỏe của con người.

Bài viết là chia sẻ toàn bộ kiến thức hiểu biết và bệnh nhồi máu cơ tim mà tất cả mọi người cần biết về bệnh. Chúc các bạn luôn luôn khỏe mạnh!

Đến với Dược phẩm Nam Thành để có những lựa chọn tốt nhất cho sức khỏe.
ĐỊA CHỈ LIÊN HỆ
Địa chỉ: Số 11 Tổ 53 Phường Yên Hòa, Cầu Giấy, Hà Nội
Điện thoại: 04 3782 2722 / 0888 399 569

CHIA SẺ
0

Leave a Reply